CÔNG THỨC LÁ SỐ
Mệnh, Cục và quan hệ sinh khắc
Mệnh và Cục là hai lớp ngũ hành khác nhau. Công cụ xác định từng lớp rồi mới đối chiếu theo vòng sinh khắc.

Ngũ hành Mệnh
Cặp Can Chi năm sinh được đặt trong vòng Lục Thập Hoa Giáp. Mỗi hai cặp liên tiếp dùng chung một Nạp Âm; Nạp Âm cho tên bản mệnh và hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa hoặc Thổ.
Ngũ Hành Cục
Can Chi tại cung Mệnh xác định Nạp Âm của cung. Hành nhận được quy về Thủy nhị Cục, Mộc tam Cục, Kim tứ Cục, Thổ ngũ Cục hoặc Hỏa lục Cục.
Năm quan hệ Mệnh–Cục
Cùng hành là Bình Hòa. Hành Mệnh sinh hành Cục là Mệnh Sinh Cục; hành Cục sinh hành Mệnh là Cục Sinh Mệnh; hành Mệnh khắc hành Cục là Mệnh Khắc Cục; trường hợp còn lại là Cục Khắc Mệnh.
Nội dung phục vụ mục đích học và tra cứu. Không dùng một yếu tố riêng lẻ để đưa ra kết luận về tính cách, vận mệnh hay tương lai.
NGUỒN VÀ PHẠM VI
Thông tin biên tập
- Đặc tả công thức Nam Phái v1.3.1Quy ước, phạm vi và các vector hồi quy được phiên bản hóa trong TUVI_ALGORITHM_SPEC.md của dự án.
- Thuật toán Âm lịch của Hồ Ngọc Đức ↗Nguồn cho chuyển đổi lịch âm dương Việt Nam, sóc, trung khí và tháng nhuận theo múi giờ UTC+7.
- doanguyen/lasotuvi (MIT) ↗Mã nguồn tham chiếu độc lập dùng để đối chiếu cấu trúc an cung, an sao và vòng sao; không được coi là nguồn đúng duy nhất.